Bác sĩ Trường Dược Sài Gòn cảnh báo mối nguy hiểm của bệnh động mạch vành

Bác sĩ Trường Dược Sài Gòn cảnh báo mối nguy hiểm của bệnh động mạch vànhBệnh động mạch vành là tình trạng động mạch vành tim bị nghẽn đưa đến tình trạng cơ tim bị thiếu dưỡng khí. Trong số các bệnh lý về tim mạch, đây là căn nguyên gây tử vong hàng đầu và người bệnh đang có xu hướng trẻ hóa.

Bệnh động mạch vành là tình trạng động mạch vành tim bị nghẽn đưa đến tình trạng cơ tim bị thiếu dưỡng khí. Trong số các bệnh lý về tim mạch, đây là căn nguyên gây tử vong hàng đầu và người bệnh đang có xu hướng trẻ hóa.

Đau thắt ngực là triệu chứng thường gặp và điển hình của bệnh động mạch vành

Đau thắt ngực là triệu chứng thường gặp và điển hình của bệnh động mạch vành

Cần phân biệt rõ 2 cơn đau ngực

Bệnh lý mạch vành làm hẹp lòng động mạch vành và do đó ảnh hưởng đến việc cấp máu cho tim. Có một số yếu tố nguy cơ, trong đó sự xuất hiện của bệnh mạch vành được tìm thấy là phổ biến hơn, bao gồm: hút thuốc lá, tiểu đường, cao huyết áp, tăng lipid máu (tăng mỡ trong máu), béo phì, thiếu vận động, stress và tiền sử gia đình mắc bệnh động mạch vành hoặc chỉ đơn thuần là lão hóa. Mảng xơ vữa bắt đầu tích tụ vào lớp nội mạc thành mạch của động mạch vành dẫn đến tắc nghẽn một phần hoặc hoàn toàn các động mạch, lưu lượng máu không còn duy trì ở mức bình thường nữa và điều này dẫn đến đau ngực (đau thắt ngực). Nếu không được điều trị kịp thời, nhồi máu cơ tim có thể xảy ra.

Đau thắt ngực là triệu chứng thường gặp và điển hình của bệnh động mạch vành. Người bệnh cần phân biệt cơn đau thắt ngực ổn định với đau thắt ngực không ổn định.

Các cơn đau thắt ngực ổn định thường xuất hiện ở vùng sau của xương ức, nó là hậu quả của sự hẹp cố định động mạch vành và các mảng xơ vữa mạch vành ổn định. Sở dĩ xảy ra tình trạng này là vì khi mạch vành bị hẹp sẽ khiến cho lưu lượng máu đến nuôi cơ tim bị giảm và dẫn đến triệu chứng đau ngực. Cơn đau sẽ xuất hiện khi người bệnh hoạt động gắng sức hoặc gánh nặng tâm lý. Đau thắt ngực ổn định thường làm cho người bệnh bị đau ngực đột ngột, không thể tiếp tục công việc đang làm, dừng luôn mọi hoạt động. Cảm giác đau tức ngực như có gì bóp chặt, đè nặng vùng sau xương ức hoặc phía bên quả tim. Cơn đau có thể lan sang 2 bên vai, lên 2 bên quai hàm dưới ra phía trong tay trái hay lên cổ. Cũng có một vài trường hợp, người bệnh có thể cảm thấy đau ở bên phải, vùng thượng vị, khiến nhầm lẫn thành cơn đau dạ dày cấp.

Ngày nay, các trường hợp đau ngực ổn định cũng đang dần được quan tâm và điều trị sớm ở một số trường hợp. Đối với những cơn đau thắt ngực ổn định thì người bệnh chỉ cần nghỉ ngơi điều độ, giúp cho nhịp tim chậm lại thì động mạch vành sẽ đáp ứng được nhu cầu oxy của cơ tim và làm giảm hẳn các cơn đau.

Ngược lại, đau thắt ngực không ổn định, hay còn gọi là hội chứng mạch vành cấp, xuất hiện do sự giảm đột ngột của dòng máu mạch vành đến nuôi cơ tim mà nguyên nhân thường là do nứt vỡ mảng xơ vữa dẫn đến bít tắc đột ngột toàn bộ hoặc một phần lòng mạch. Đây là tình huống cần được cấp cứu khẩn cấp. Triệu chứng đau ngực thắt ngực không ổn định thường dữ dội, kéo dài hơn so với đau thắt ngực ổn định. Các cơn đau sẽ có xu hướng xuất hiện ngày càng nhiều với mức độ đau tăng dần, có thể trở nên tồi tệ hơn trong một khoảng thời gian rất ngắn.

Các cơn đau thắt ngực không ổn định vô cùng nguy hiểm, nó không chỉ gây ra nhồi máu cơ tim cấp mà còn có thể khiến cho người bệnh tử vong đột ngột nếu không cấp cứu kịp thời. Ngay cả khi được cấp cứu kịp thì khả năng bị di chứng về sau cũng khá nặng nề.

Ngoài dấu hiệu điển hình là những cơn đau thắt ngực, bác sĩ Trường Cao Đẳng Dược Sài Gòn còn cho biết người mắc bệnh động mạch vành còn gặp phải các triệu chứng như đau ngực, đặc biệt là ở giữa ngực hoặc bên ngực trái, kéo dài trong vài phút, hoặc biến mất và quay trở lại. Đau cảm giác tức nặng như có áp lực đè ép, đầy; khó chịu vùng ngực kèm theo đau mỏi ở một hoặc cả hai cánh tay, vai, cổ, hàm hoặc phần trên của dạ dày; khó thở, có hoặc không có đau ngực; buồn nôn hoặc nôn, chóng mặt hoặc ra mồ hôi lạnh, đánh trống ngực, khó chịu vùng ngực.

Trường Cao Đẳng Dược Sài Gòn đào tạo kỹ thuật hình ảnh y học uy tín

Trường Cao Đẳng Dược Sài Gòn đào tạo kỹ thuật hình ảnh y học uy tín

Phương pháp điều trị bệnh động mạch vành

Có 2 phương pháp điều trị bệnh mạch vành là điều trị nội khoa và điều trị can thiệp. Điều trị nội khoa là phương pháp điều trị bằng thuốc; có thể dùng một loại hay phối hợp nhiều thứ thuốc với nhau như: các thuốc chống kết vón tiểu cầu (aspirin, plavix); các thuốc ức chế thụ thể beta (như tenormin, betaloc…); các thuốc chẹn kênh calci (amlordipin, tildiazem…); các thuốc hạ cholesterol máu (nhóm statin như zocor, crestor, lipitor…) hay nhóm fibrat (như lipanthyl, lopid…). Và một điều rất quan trọng là sửa chữa các yếu tố nguy cơ tim mạch, đặc biệt là bỏ thuốc lá, điều trị tốt đái tháo đường và tăng huyết áp…

Mặt khác, điều trị can thiệp gồm can thiệp hoặc phẫu thuật. Can thiệp động mạch vành qua da là phương pháp dùng các dụng cụ chuyên biệt để nong đoạn động mạch vành bị hẹp, làm tái lưu thông trở lại bình thường đoạn động mạch vành bị hẹp mà không phải mổ. Một phương pháp khác là phẫu thuật bắc cầu nối. Dùng một đoạn động hoặc tĩnh mạch bắc cầu từ nguồn cấp máu qua vị trí động mạch vành tổn thương nối với đoạn động mạch vành phía sau đoạn hẹp, như vậy máu sẽ được cung cấp cho vùng cơ tim bị thiếu máu thông qua 1 cầu nối mới.


Bài viết liên quan

trường cao đẳng dược sài gòn tuyển sinhTop