Những dấu hiệu của người bị ối vỡ non và cách xử lý

Những dấu hiệu của người bị ối vỡ non và cách xử lýỐi vỡ non là tình trạng ối vỡ trước khi thai vào chuyển dạ.Vậy ối vỡ non có nguy hiểm không ? Cần xử trí như thế nào trong trường hợp này?

Ối vỡ non là tình trạng ối vỡ trước khi thai vào chuyển dạ.Vậy ối vỡ non có nguy hiểm không ? Cần xử trí như thế nào trong trường hợp này?

Những dấu hiệu của người bị ối vỡ non và cách xử lý

Dấu hiệu của người bị vỡ ối non

Để hiểu rõ hơn về vấn đề này chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với các Bác sĩ giảng viên tại Trường Cao Đẳng Dược Sài Gòn

Những dấu hiệu lâm sàng nào gợi ý bệnh nhân bị ối vỡ non?

Bệnh nhân bị ra nước rỉ rả hay đột ngột trong âm đạo. Tính chất dịch là đục, lợn cợn, trong, vàng, hay xanh sậm. Đóng băng vệ sinh thấy ướt nước ối. Đặt mỏ vịt thấy nước ối chảy ra từ cổ TC, có thể thấy phần thai (tóc,chi...).

Khi khám có thể sờ thấy phần thai, tóc, dịch ối chảy ra âm đạo.

Trường hợp nhiễm trùng ối nặng có thể thấy có sốt cao, chạm TC đau, dịch ối chuyển màu xanh đen và hôi. Tiên lượng xấu cho mẹ và bé.

Trong trường hợp nghi ngờ bệnh nhân bị ối vỡ non cần làm các cận lâm sàng nào?

Nitrazine test: chỉ thị màu chuyển xanh.

Siêu âm: không có giá trị chẩn đoán nhưng có thể ghi nhận lượng nước ối giảm hoặc bình thường.

Xét nghiệm chẩn đoán nhiễm trùng ối: TPTTBM dùng để đánh giá sự gia tăng của tổng số BC và tỉ lệ BCĐNTT mỗi 6 giờ sau khi ối vỡ. Khi BC > 12.000/mm3, BCĐNTT > 85%, CRP > 20mg/L. Cấy dịch ối ít khi làm, kết quả chậm, thường làm cấy dịch lòng TC sau sinh khi tình trạng nhiễm trùng sau sinh không được khắc phục sau điều trị kháng sinh liều cao.

Chẩn đoán nhiễm trùng ối khi có dấu hiệu mạch mẹ > 100 l/p, mạch con > 160 l/p, tử cung mềm đau, sản dịch hôi, bạch cầu > 15 000.

 

Cần xử trí như thế nào trong trường hợp bệnh nhân bị vỡ ối non?

Để xử trí khi bệnh nhân bị vỡ ối non, các bác sĩ Trường Cao Đẳng Dược Sài Gòn cho rằng cần dựa vào tình trạng bệnh nhân có chuyển dạ hay không, có nhiễm trùng hay không, tuổi thai.

Nguyên tắc chung trong xử trí

Hạn chế khám âm đạo, chỉ khám âm đạo khi có chuyển dạ tích cực, cần đánh giá tiến triển CTC và ngôi thai theo biểu đồ chuyển dạ.

Cần khám đánh giá chỉ số Bishop trước khi quyết định phương pháp chấm dứt thai kỳ.

Cố gắng sinh đường âm đạo. Tuy nhiên, khi việc khởi phát chuyển dạ hay sinh chỉ huy không thuận tiện hoặc không tiến triển tốt thì phải mổ lấy thai.

Chú ý sau khi dùng PGE1, PGE2, tử cung rất nhạy với Oxytocin và dễ gây cơn gò cường tính, dọa vỡ - vỡ TC, thai suy nên cần theo dõi chặt chẽ CD với monitor sản khoa. Chỉ sử dụng Oxytocin sau 4 tiếng sử dụng PGE1 hay 6 tiếng sử dụng PGE2.

Trong trường hợp nào cần phải quyết định chấm dứt thai kỳ? Khi nào cần trì hoãn việc chấm dứt thai kỳ?

Phải chấm dứt thai kỳ ngay khi sa dây rốn, thai suy hay đã vào chuyển dạ thực sự với CTC ≥ 3cm không thể chặn cuộc chuyển dạ, có nhiễm trùng ối trên lâm sàng và/hoặc CLS, đã vào chuyển dạ thực sự với CTC < 3cm nhưng dùng thuốc giảm gò

không hiệu quả. Thai đã đủ trưởng thành với tuổi thai ≥ 37 tuần.

Trì hoãn chấm dứt thai kỳ khi trì hoãn CDTK là tạm ngăn chặn việc CD xảy ra trong vòng 36-48 giờ, là thời gian cần thiết để hỗ trợ phổi thai nhi khi tuổi thai < 37 tuần kèm theo không có bằng chứng của nhiễm trùng ối trên lâm sàng và/hoặc CLS hay đã vào chuyển dạ thực sự nhưng CTC < 3cm.

Những dấu hiệu của người bị ối vỡ non và cách xử lý

Các phương pháp nào để chấm dứt thai kỳ?

Các phương pháp chấm dứt thai kỳ theo thể lâm sàng

Trường hợp đã có chuyển dạ, chưa nhiễm trùng và thai đủ tháng: 80 – 90% vào CD.

Theo dõi như một cuộc chuyển dạ tự nhiên. Đánh giá nhiễm trùng mỗi 3 giờ: nhiệt độ, tim thai, màu mùi nước ối. Đánh giá tiến triển của chuyển dạ mỗi 4 giờ/tiềm thời và mỗi 1-2 giờ/hoạt động. Kháng sinh điều trị (liều cao và phối hợp) khi có bằng chứng nhiễm trùng. Dùng KS sau 12 giờ ối vỡ mà chưa sinh.

Trường hợp đã có chuyển dạ, chưa nhiễm trùng và thai ≤ 34 tuần (50% vào CD tự nhiên sau 48 giờ): xử trí như trên và thêm hỗ trợ phổi thai với Betamethason theo phác đồ hoặc tương đương và trì hoãn CDTK từ 12 - 24 giờ để hỗ trợ phổi với thuốc giảm gò.

Trường hợp chưa có chuyển dạ, chưa nhiễm trùng và thai đủ tháng: theo dõi tự nhiên, nếu sau 12 giờ ối vỡ không vào chuyển dạ thực sự do cơn gò thưa sẽ tăng co với dung dịch Oxytocin.

Trường hợp chưa có chuyển dạ, chưa nhiễm trùng và ≤ thai 34 tuần: cố gắng dưỡng thai, tối thiểu 48 giờ để hỗ trợ phổi. Có thể dưỡng thai lâu hơn khi không có nhiễm trùng.

Xử trí nhiễm trùng ối: Kháng sinh liều cao phối hợp. CDTK tăng co sau sử dụng kháng sinh 30 phút không quá 4 giờ. Thuận lợi thì theo dõi sinh. Nếu không thuận lợi thì MLT (chèn gạc kỹ, hút sạch nước ối).

Cảm ơn những chia sẻ bổ ích trên của Bác sĩ Trường Cao Đẳng Dược Sài Gòn hy vọng các bạn sẽ có thêm kiến thức bổ ích trong vấn đề chăm sóc sức khỏe ở phụ nữ mang thai đặc biệt là cần đưa đến bệnh viện khi có dấu hiệu bất thường để được xử trí kịp thời.


Bài viết liên quan

trường cao đẳng dược sài gòn tuyển sinhTop